BẾNTRE
VÀ ĐỒNG
BẰNG CỬU LONG
Nguyễn Văn Châu
Ngược ḍng thời gian,trở lại
buổi sơ khai của cuộc Nam tiến của Ông Cha
chúng ta:
Họ là những người không thích
luồn cúi,nịnh hót, bợ đỡ;yêu chuộng tự
do phóng khoáng,đi khai phá, chinh phục rừng
sâu,nước độc,đầm lầy;chiến
đấu với cọp, beo,cá sấu,rắn
độc,muỗi mồng, đỉa vắt.Họ
biến hoang vu thành làng mạc,phố xá.Tất cả đặc
tính và h́nh ảnh trên đă được Đằng
Phương Nguyễn Ngọc Huy diễn tả khá rỏ
ràng:
Họ là những kẻ tự muôn ngh́n
thuở trước
Đă
phá rừng,xẻ núi,lấp đồng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một giải san hà gấm
vóc.
Họ là những kẻ không nài
đường hiểm hóc,
Không ngại ǵ hăng hái vượt trùng
sơn
Để âm thầm chuẩn bị giũa
cô đơn
Cuộc Nam tiến mở giang sơn
lớn rộng.
Trong cái giải giang sơn lớn rộng
đó,mỗi địa phương,do thiên nhiên và con
người tác động , tạo nên những nét
đặc thù.Do đó chúng ta có SàiG̣n, Huế, HàNội,Đà
Nẳng,Nha Trang Đà Lạt,Biên Ḥa, Tây Ninh, Gia Định,
,MỹTho, BếnTre,VĩnhLong, CầnThơ, Sóc
Trăng,Bặc Liêu,Rạch Giá, Càmau v.v.
Một vài đoạn văn sau đây,chúng
ta cố gắng t́m coi đâu là những nét đặc thù
của BếnTre,những cái nào là
chung với Đồng Bằng Cửu Long?
·
Địa
lư thiên nhiên của BếnTre
BếnTre là một tỉnh nhỏ thuộc
Đồng Bằng CửuLong,được h́nh thành
bởi 3 cù lao: Cù lao Minh, Cù Lao bảo và Cù Lao An Hóa, diện
tích 2,247 cây số vuông.
Trung tâm tỉnh là làng An Hội,thuộc
quận châu thành Trúc Giang, cách SàiG̣n 87 KM về
hướng Bắc.Tiếp giáp với Bến Tre là
Mỹ Tho và G̣ Công về hướng Bắc,hướng
Tây là Vĩnh Long, Nam là TràVinh, cả 3 cù lao đều
giáp với biển Đông. Do sự tiếp giáp với Biển Đông
qua 4 cửa sông lớn của Cửu Long Giang : Cửa Đại, cửa
Balai, Cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên, nên Bếntre ,
mỗi ngày 24 giơ,ø có 2 lần nước lớn và 2
lần nước ṛng.Và cũng do đó, đất đai
BếnTre được chia thành 3 vùng tự nhiên
- Vùng
nước ngọt quanh năm ở miệt trên chiếm
37% diện tích
- Vùng
nước lợ ( bị nhiễm mặn và phèn ) ở
giũa, chiếm 27% diện tích
- Vùng
nước mặn quanh năm ( giáp biển) chiếm 36%
diện tích.
* Kinh, Rạch, Chợ : Bếntre có một hệ thống kinh
rạch đương nhau như màn nhện nối
liền 4 sông lớn bao bọc 3 cù lao:Sông Tiền,Ba lai, Hàm Luông và Cổ
Chiên.Hầu hết các chợ được thiết
lập tại bếnTre là chợ ven bờ kinh rạch hay
tại vàm.(trên bến dưới thuyền) BếnTre
với 118 xă, có 51 chợ.Những
rạch lớn của Bếntre gồm: Rạch
BếnTre,chảy từ Hàm Luông
qua Chợ Châu Thành BếnTre và tận cùng là quận Giồng Trôm,rạch
Cả Nhỏ,rạch Quới Sơn,rạch Lách,rạch
CáiMơn,rạch Hàm Long ,rạch Giồng Sao,Rạch
Giồng Trôm,rạch Chợ Lách,rạch Cái Cấm,rạch
Mỏ Cày,rạch Cái Quao,rạch Cầu Mống,rạch
Giồng Luông, rạch Băng Cung,rạch Khâu Băng.
BếnTre cũng có nhiều kinh nhưng không dài
lắm;những kinh quan trọng gồm: Kinh Xáng, cũng c̣n
gọi là kinh Chợ Lách dài 7,5 KM nối sông Cổ Chiên và sông
Hàm Luông. Đây là con đường lúa gạo của
miền Nam.
Kinh Chẹt Sậy dài 5. Km nối rạch
BếnTre với sông Ba lai rồi nối liền với
kinh Giao Ḥa dài 9 KM
nối sông Ba lai với sông Cửa Đại. Kinh Chẹt
Sậy nối liền kinh Giao Ḥa
là con đường lúa gạo của BếnTre và
TràVinh đi Sàig̣n.
* Đường
bộ:
BếnTre có qua nhiều sông rạch và kinh đào nên
đường bộ không nhiều . Việc xây
đấp rất tốn kém,phải xây rất nhiều
cầu,nhiều bến bắc;đá, sắt, xi măng
phải chở bằng ghe tàu từ miệt trên.
Đường liên tỉnh MỹTho, BếnTre, TràVinh dài 54 KM, qua 3 bến
bắc : Rạch Miễu, Hàm Luông và Cổ
Chiên,đường từ châu thành BếnTre đi
Giồng Trôm, BaTri dài 50
KM và đường đi tư ø quận
Chợ Lách đầu cù lao Minh qua Mỏ Cày đến biển
Thạnh Phú dài 70 KM.
Tổng
cộng, BếnTre có khoảng 135 KM đường lộ
đất nối liền các quận lỵ và xă ấp.
* Sông
nước BếnTre: danh từ nầy áp dụng cho Bến Tre là
đúng nhứt.Toàn cỏi Việt Nam
từ Nam Quan chí Cà Mau, duy nhứt
tỉnh BếnTre là xứ cù lao được bao
bọc bởi Sông Tiền , sông Cổ Chiên và biển
Đông;hiền nhân quân tử nào muốn đến thăm
em gái xứ dừa đều phải qua bắc tại Rạch Miểu,
Cổ Chiên hay Chợ Lách
.Chừng nào mới có đủ tiền để xây
cầu vượt Sông Tiền hay sông Cổ Chiên để
vào xứ dừa?
·
Quá tŕnh h́nh thành tỉnh
BếnTre
Năm 1780,Chúa Nguyễn Ánh chia toàn cơi
đất phương Nam-lúc đó gọi là Gia
Định-làm 4 doanh trấn:Phiên trấn,Biên
trấn,Định trấn và Vĩnh trấn.Vùng
đất BếnTre lúc gồm 2 cù lao : cù lao Minh, cù lao
Bảo và thuộc Vĩnh trấn. Năm 1805, Vua Gia Long chia
đất Gia Định lại thành 6 trấn:Biên Ḥa,Gia
Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và
Hà Tiên. Năm 1834 Vua Minh Mạng đổi trấn thành
tỉnh,tên Nam Kỳ lục tỉnh khai sanh từ đó và
vùng đất BếnTre vẩn thuộc Vĩnh Long.
Năm 1867, sau
khi chiếm xong đất Nam Kỳ, Pháp lập chế
độ Hành Chánh thuộc địa, chia đất Nam
Kỳ làm 25 Sở Tham Biện( Inspections);cù lao An Hóa
thuộc Sở Tham Biện
MỹTho . Sở Tham Biện Mỏ Cày ( cù lao Minh ) Sở
Tham Biện BếnTre ( cù lao Bảo).Năm 1871,do Quyết
Định của Thống Đốc Nam Kỳ: Hai cù lao
Minh và Bảo nhập lại với tên chung là Sở Tham
Biện BếnTre.
Nghị Định của Toàn Quyền
Đông Dương Paul Doumer kư ngày 20/12/1899, thay
danh từ Sở Tham Biện (Inspection) bằng danh từ
Tỉnh ( Province) và chia đất Nam Kỳ làm 20 tỉnh: Bà Rịa,
Biên Ḥa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn,
Tân An, Mỹ Tho, G̣ Công, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên, Cần Thơ,Sóc Trăng,
Bạc Liêu, Rạch Gía, Hà Tiên và
Thành Phố Sài G̣n.
Ngày 1/1/1900,Thống Đốc Nam Kỳ, chiếu
Nghị Định trên, kư Quyết Định thành lập tỉnh
BếnTre gồm cù lao Minh (10 tổng)và cù lao Bảo (11)
tổng ;tất cả có 178 làng.Đứng đầu là
viên Tỉnh Trưởng, trung tâm hành chánh
tỉnh đặt tại làng An Hội thuộc
tổng Bảo Hựu nằm bên bờ rạch Bến Tre,dân
số toàn tỉnh vào khoảng 220,000 người.
Cù lao An Hóa thuộc Mỹ Tho.
Cù Lao Minh gồm các tổng: Minh Đạo, Minh
Đạt, Minh Hóa, Minh Huệ, Minh Lư, Minh Phú, Minh Quới, Minh Thiện. Minh
Thuận và Minh Trị
Cù Lao Bảo gồm các tổng: Bảo An, Bảo
Đức, Bảo Ḥa, Bảo Hựu, Bảo Khánh, Bảo
Lộc, Bảo Ngải, Bảo
Phước, Bảo Thành, Bảo Thuận và Bảo
Trị.
Năm 1945, tỉnh BếnTre đổi tên là tỉnh Đồ Chiểu
Năm 1946-1954, tỉnh mang tên Bến Tre
Năm 1954-1975, tỉnh đổi tên :
Kiến Ḥa gồm cả 3 cù lao: An Hóa, Bảo
và Minh, có 118 Xă thuộc 10 quận: Trúc
Giang, Giồng Trôm, Ba Tri, Hàm
Long, Đôn Nhơn, Mỏ Cày, Hương
Mỹ, Thạnh Phú, B́nh
Đại, Phước Hưng.
·
Dân cư.
Người BếnTre gồm
đa số là người Việt miền ngoài,nhiều
nhứt là Quảng B́nh, Quảng Trị,Thừa Thiên,
Quảng Nam,Quảng Ngải,B́nh Định và người
Minh Hương đến rải rác từ nhiều
thế kỷ trước. Tất cả đến
BếnTre với hai bàn tay trắng,nhưng giàu nghị
lực và trí thông minh; tiền nhân BếnTre vừa khắc
phục thiên nhiên, vừa xây dựng, phát triển,vừa
bảo vệ làng xóm trong tinh thần trọng nhân nghĩa
,phóng khoáng, chống áp bức và bất công bất luận
từ đâu đến.Đại diện cho tiền nhân
BếnTre, hậu thế chúng ta rất hănh diện về
sự đóng góp,xây dựng, về những tấm
gương sáng chói của các bậc:
*** Ông Già Ba Tri:Tên thật Thái Hữu Kiểm, cháu nội
Ông Thái Hữu Xưa, gốc người Quảng Ngải, đă
sanh cơ lập nghiệp tại Ba Tri từ thế
kỷ 18; đă có công giúp Chúa Nguyễn Ánh và
được phong chức
Trùm Cả An B́nh Đông quận Ba Tri. Năm
1806, Cả Kiểm dựng chợ Trong nằm
bên cạnh rạch Ba Tri, đấp đường xá;
chợ càng ngày càng tấp nập phát triển. Chợ
có trước là chợ Ngoài, cách chợ Trong 3 KM. Ông Xă
Hạc ở chợ ngoài
chơi ép, đấp đập ngăn chận ghe
thuyền từ sông Hàm Luông không vào được chợ
Trong. Bị hiếp đáp, Cả
Kiểm kiện , Phủ Huyện địa phương
xử chợ Trong bị thua với lập luận: ”Mỗi
làng đều có quyền đấp đập trong
địa phận làng ḿnh”Dân chợ Trong không chấp phán
quyết bất công trên,cử Cả Kiểm cùng hai kỳ
lăo:
Nguyễn Văn Tới và Lê Văn Lợi, tất
cả khăn gói lên đường đi bộ từ Ba
Tri ra Huế-đường dài trên 1000 cây số-để
thượng tố lên Vua xin phúc thẩm lại phán
quyết bất công của địa phương!
Đến Huế, Vua Gia long vừa băng
hà,Vua Minh Mạng thụ lư và phán: ”Dù là
làng riêng,nhưng rạch là rạch chung,là đường
giao thông chung của cả chợ Ngoài lẩn chợ Trong. Phủ Huyện phải cho dẹp bỏ
đập”
Do ḷng cương quyết, không
ngại đường xa,được hun đúc bởi
ư chí phấn đấu cho lẻ phải và công bằng;phái
đoàn do Cả Kiểm hướng dẫn làm xong
nhiệm vụ là dẹp bỏ được đập
ngăn chận rạch BaTri từ chợ Ngoài!Từ
đó, dân BếnTre gọi Cả Kiểm là “Ông Già
Ba Tri” và hiện nay, khi nghe nói đến BếnTre là liên
tưởng đến vùng đất của Ông Già Ba Tri.
*** Ông Trương Tấn Bửu (1752-1827) Là danh tướng thời Vua Gia
Long. Ông c̣n có tên là Long ,người làng Thạnh Phú
Đông,Giồng Trôm.Ông giúp Nguyễn Ánh từ
đầu.Năm 1802,Ông là Tổng Trấn Bắc
Thành,năm 1810 Ông là Tổng Trấn Gia Định
Thành.Nhiệm vụ cuối cùng là phối hợp với
Ông nguyễn Văn Thoại lo đào kinh Vĩnh
Tế.Mất năm 1827, thọ 75 tuổi;hiện nay,
tại Phú Nhuận,Gia Định c̣n miếu thờ họ
Trương.
*** Ông Vơ Trường Toản (.....1792)Ẩn sĩ thời tranh chấp Nguyễn Ánh
và Nguyễn Tây Sơn.
Quê B́nh Dương, Gia Định.Ông là
người tài cao, đức trọng; không cầu công
danh,ở ẩn dạy hoc.
Ông đă đào luyện rất nhiều
học tṛ giỏi:Ngô Tùng Châu,Trịnh Hoài Đúc,Lê Quang
Định,Ngô Nhân Tịnh,v.v.Nguyễn Ánh thường lui
tới với Vơ Trường Toản để tham
vấn quốc sự và đă nhiều lần mời
hợp tác nhưng Ông luôn chối từ.Mất năm
1792 và Nguyễn Phúc Ánh ban
hiệu :Gia Định xử sĩ Sùng Đức Vơ tiên
sinh.Khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ,Ông
Phan Thanh Giản và nhiều học tṛ khác đứng ra lo
việc cải táng, dời mộ Ông Vơ Trường Toản đem
về BaTri BếnTre với lư do là không để mộ
Thầy nằm nơi đất địch chiếm!
*** Ông Phan Thanh Giản (1796-1867) Gốc người Minh Hương,lúc
đầu, gia đ́nh định cư vùng B́nh Định,
sau di cư vào vùng Ba Tri BếnTre.Tiến sĩ đầu
tiên tại vùng đất mới
phương Nam năm 1826.Tham chánh,do tánh t́nh
cương trực, bi thăng gián nhiều lần:Ông
đă là Thượng Thơ Bộ H́nh,Bộ
Hộ,trưởng đoàn thương thuyết tại
Pháp để mong chuộc lại 3 tỉnh miền Đông
Nam Kỳ.Nhờ xuất ngoại nhiều lần , Ông
nhận chân sự ưu thế của khoa học và kỷ
thuật,dâng sớ mong Vua và triều đ́nh Huế sớm
canh tân đất nước về mọi mặt.Vua không
để ư, triều đ́nh không nghe, Ông đă tâm sự.
“Từ ngày đi sứ đến Tây
kinh,
Thấy việc Aâu Châu phải giật ḿnh.
Kêu rủ đồng bang mau thức dậy
Hết lời năn nỉ chẳng ai tin !
Đang đảm nhận nhiệm vụ
Kinh Lược Sứ miền Tây Nam Kỳ ,xâm lược
Pháp đem quân đe dọa bản doanh Vĩnh Long và xua quân đánh
chiếm An Giang và Hà Tiên;đưa tối hậu thơ
buộc Ông phải lên tàu chiến Pháp đang neo tại
Vĩnh Long để thương thuyết.Biết rơ dă tâm
của xâm lược Pháp và thực lực của quân
ta;Ông Phan Thanh Giản,một mặt cho án binh bất
động, một mặt cho mật báo với Triều
Đ́nh Huế để xin chỉ thị.Chờ, chờ
mải không được tin:
Trạm Bắc ngày chiều tin điệp
vắng
nhưng được hung tin : An
Giang và Hà Tiên đă lọt vào tay xâm lược Pháp! Người quân tử đất BếnTre
cùng đường,chọn cái chết để giăi bày
ḷng trung quân ái quốc .Hành động cuối cùng:tại
đất Vĩnh Long,Ông Phan Thanh Giản dặn con cháu sau
nầy không được hợp tác với thực dân
Pháp, Ông hướng về phương Bắc, lạy Vua 5
lạy rồi tự kết liễu đời ḿnh
bằng chén độc dược sau 17 ngày tuyệt
thực.Danh sĩ phương Nam –Phan Thanh Giản-vĩnh
viễn ra đi ngày 4/8/1867.Trong các bài
điếu văn, bài thơ truy niệm Phan Thanh Giản
của cụ Đồ Chiểu thường
được hậu thế nhắc lại để
tỏ ḷng kính phục Phan tiên sinh:
Non nước tan tành hệ bởi đâu
Dàu dàu mây bạc cơi Ngao Châu
Ba triều công cán vài hàng sớ
Sáu
tỉnh cương thường một gánh thâu
Trạm Bắc ngày chiều tin nhạn
vắng
Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu
Minh sinh chín chữ ḷng son tac
Trời đất từ rày mặc gió Thu!
Phan tiên sinh là nhà ái quốc, chống
đỡ giang san Việt trong hoàn cảnh vô cùng nghiệt
ngả.Thế kỷ 15, Việt Nam có danh sĩ Nguyễn
Trải;thế kỷ 19 chúng ta có
đại công thần Phan Thanh Giản người làng Ba Tri,tỉnh BếnTre.
*** Nguyễn Đ́nh Chiểu (1822-1888).Người B́nh
Dương,đậu Tú Tài Gia Định năm
1843,năm 1847 ra Huế chuẩn bị kỳ thi
Hương Hay tin mẹ mất, bỏ thi,trở về Nam
thọ tang mẹ.Thương mẹ, khóc
nhiều,bị mù mắt!Về lại Gia
Định,dạy học nên người địa
phương gọi là Cụ Đồ Chiểu.
Theo Nho học một cách triệt
để nên Cụ Đồ Chiểu chống các tôn giáo
khác một cách quá độ.
Thà đui mà giữ đạo nhà
C̣n hơn có mắt, ông cha không thờ.
Năm 1859,Pháp đánh chiếm SàiG̣n,Đồ
Chiểu về lánh nạn tại Cần Giuộc rồi
di cư và ở luôn tại Ba
Tri, BếnTre để vừa dạy học, hốt
thuốc chữa bịnh, vùa cố vấn nghĩa quân
chống Tây qua thơ ca.Biết Cụ Đồ Chiểu
có nhiều ảnh hưởng đối với nghĩa
quân,viên Chánh Tham Biện BếnTre là
Mr Ponchon đă 3 lần đến tận nhà Cụ
để t́m cách chiêu dụ:
Lần 1= đề nghị trả lại
đất đai cho Cụ ở B́nh Dương. Không
nhận và Cụ trả lời:
Nước chung đă mất,đất
riêng giữ làm chi?
Lần 2=đề nghi cấp tiền dưỡng
lăo cho Cụ. Cụ từ chối.
Lần 3=Bản Lục Vân Tiên có nhiều chỗ
không đúng nguyên văn bản chánh, xin Cụ hiệu chính.
Cụ nhận lời.
Ngoài tập thơ nổi tiếng Lục
Vân Tiên, Cụ Đồ Chiểu c̣n sáng tác rất nhiều
tác phân lớn như:Dương Từ Hà Mậu,Ngư
Tiều Y Thuật vấn đáp,Gia Huấn Ca và nhiều
thơ văn ái quốc khác
Cụ Đồ Chiểu mất năm 1888.Toàn
dân khắp cả nước đều tỏ ḷng
thương tiếc và kính nể trọng gương ái
quốc của Cụ :
Sự đời muốn khuất đôi
tṛng mắt
Ḷng đạo xin tṛn một tấm
gương!
*** Ông Phan Văn Trị (1830-1910 ) Người Gia Định,đậu
Cử Nhơn năm 1849,không làm quan.Khi Pháp chiếm Saig̣n,ông
di cư về BếnTre,hợp cùng Cụ Đồ
Chiểu;cố vấn nghĩa quân chống Tây.Trong số
Nho học hợp tác với Pháp,có ông Tôn Thọ
Tường làm thơ kêu gọi sĩ phu về hợp tác
với tân trào qua bài thơ sau:
Tự Thuật
Giang sơn ba tỉnh hăy c̣n đây
Trời đất xui chi đến nỗi
nầy
Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo
Mây tuôn đen kịt khói tàu bay
Xăng văng chậm tính thương
đ̣i chổ
Khấp
khởi riêng lo biết những ngày
Miệng cọp hàm ṛng chưa dễ
chọc
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay!
Để trả lời bài tự thuật
trên,chí sĩ Phan Văn Trị họa lại nguyên vận
bài thơ trên:
Tự Thuật
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây
Chẳng đă,nên ta phải thế nầy!
Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy,
Cồn Rồng dù mặc bụi tro bay.
Nuôi muông, giết thỏ c̣n chờ thuở,
Bủa lưới săn nai cũng có ngày.
Đừng mượn hơi hùm rung nhát
khỉ,
Ḷng ta sắt đá há lung lay!
Qua bài thơ bút chiến trên,chí sĩ họ
Phan được sĩ phu khắp nước tán
thưởng, nể phục!
Sau khi Pháp chiếm VĩnhLong (lúc đó
BếnTre thuộc VĩnhLong),Cử Trị di cư vào
CầnThơ,hợp cùng Ông Bùi Hữu Nghĩa và Huỳnh
Mẩn Đạt,tiếp tục yểm trợ tinh
thần nghĩa quân chống Tây vùng Hậu Giang.Mất
năm 1910,mạnh thường quân CầnThơ và BếnTre
hợp tác xây mộ Ông Phan Văn trị nằm tại
Phong Điền CầnThơ.
*** Ông
Petrus Trương Vĩnh Kư (1837-1898)
Một thiên tài về ngôn ngữ và văn
học.Người làng
CáiMơn Bếntre (trước thuộc VĩnhLong)Nhà
nghèo, mô côi cha từ lúc lên ba,rất thông minh.Học chữ
Nho tại địa
phương,được
học bổng đi
học ở Nam Vang lúc lên chín và được tiếp
tục học tại học viện Giáo Hoàng tại Penang
ở MảLai.Nhờ thiên phú
về ngôn ngữ học,ngoài ngôn ngữ LaTinh, ông tự
học qua các tiếp xúc với sinh viên và giáo sư của
các quốc gia khác trong
khi du học;Petrus Kư hiểu
biết 11 ngôn ngữ Đông
phương và 15 ngôn ngữ Tây phương .Ông nghe, nói,
viết một cách chính xác và lưu loát: Pháp,Anh,Ư,Tây Ban Nha,Hy
Lạp và Ấn Độ.Ông được cả thế
giới ngưỡng mộ và vinh danh Ông là một là
một Nhà Bác Học về ngôn ngữ học.
Học xong, về nước năm 1859,vừa lúc Pháp đánh
chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ.Nhờ giỏi
Pháp ngữ,Petrus Kư được chọn làm thông dịch
viên nơi hội nghị Pháp
Việt tại Huế năm 1862 và rồi ,Ông
được chọn làm trưởng ban thông dịch trong
phái bộ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp tại hội
nghị Paris năm 1863 để ViệtNam mong chuộc
lại 3 tỉnh Biên Ḥa, Gia Định và Định
Tường.Tất cả tham dự viên tại hội
nghị Paris lúc đó đều vô cùng ngạc nhiên và
cảm phục khả năng ngôn ngữ của Petrus Kư
trong công tác chuyển dịch các văn bản ngoại giao
cùng lời đối thoại tại hội nghị.Phái
đoàn lưu lại Paris 8 tháng chờ chuyến tàu,nhân
dịp nầy,Ông Petrus Kư có dịp bệ kiến
Đức Giáo Hoàng,viếng thămmột số nhân
vật và một số nơi tại Âu Châu.Ông có dịp t́m
hiểu tại chỗ nền
văn minh Âu Châu. Về SàiG̣n năm 1864 và lần lượt đảm
nhận các trọng trách:
-Chủ
bút Gia Định báo,tờ báo Việt ngữ đầu
tiên của ViệtNam xuất bản năm 1867
-Giám Đốc trường thông ngôn
-Giáo sư trường Sư Phạm và
trường Ngôn Ngữ Á
Đông
-Năm 1874 Ông được chọn là Toàn
cầu Bác Học và được bầu vào một
trong 18 Văn Hào Thế
Giới
Cũng nhân chuyến công tác tại Pháp,Petrus
Kư có dịp giao tiếp các mhà trí thức như Victor
Hugo,Littre,Ernest Renan,Paul Bert..v.v. Và 22 năm sau,người
bạn trí thức năm xưa Paul Bert được
bổ nhiệm làm Toàn
Quyền Đông Dương và đến Sàig̣n tháng 2
/1886.Nể trọng tài năng và tư cách,Paul Bert ngày
1/4/1886 mời Petrus Kư hợp tác trong cương vị:
Thay mặt Pháp tại Cơ Mật Viện
của triều đ́nh Huế và đồng thời là
cố vấn bên cạnh Vua Đồng Khánh.
T́nh h́nh chánh trị nước ta lúc đó
vô cùng khó khăn và phức tạp.Các phong trào Cần
Vương nổi lên chống Pháp khắp mọi nơi:
Nghĩ ra nông nổi thêm rầu
Ở giữa Đồng Khánh, hai
đầu Hàm Nghi.
Một trong những nhiệm vụ hàng
đầu của Toàn Quyền Paul Bert là duyệt lạicác
điều khoản của các ḥa ước đă kư trước đây giữa
triều đ́nh Huế và Pháp (1862,1874,1884).Nhân dip nầy,
Ông Petrus Trương Vĩnh Kư đă đem những
điều khoản bất lợi cho triều đ́nh
Huế thảo luận lại với Paul Bert;hành
động trên của Petrus Kư bị một số viên chức Pháp nghi
ngờ Ông!
Ngày 11/11/1886 Toàn Quyền Paul Bert bất
ngờ bị bịnh chết. Ông Paulin Vial thay thế và có
đường lối đối với triều đ́nh
Huế trái ngược hẳn khi so với Paul Bert. Petrus
Trương Vĩnh Kư từ nhiệm ,lui về SàiG̣n
dạy học và viết sách.Ông sáng tác rất nhiều và
thuộc nhiều loại khác nhau:Từ điển,Sử
kư, Địa lư,Khoa học,Văn chương,Dịch
thuật;tất cả 141 quyển , hoàn tất và phát hành
119 quyển.
Ông Petrus Trương Vĩnh Kư đă dầy
công xây đấp nền Văn Học Quốc
Ngữ,một nền văn học thật sự mới
được xây dựng có hơn 150 năm
nay;trước đó ,Văn Học Việt
được diễn tả và phổ biến bằng
chữ Nho và chữ Nôm và thường được tŕnh
bày dưới h́nh thức
thơ phú, tức văn vần.Chữ Quốc
Ngữ tuy đă có từ thế kỷ 17 nhưng chỉ được
dùng trong phạm vi truyền đạo Thiên Chúa.Trong ṿng 100
năm nay, mỗi học giả ViệtNam chân chánh, tùy theo
khả năng,tùy theo lănh vực chuyên môn ,mỗi
người có một cái nh́n riêng biệt về sự
đóng góp của nhà bác học Petrus Kư vào lâu đài văn
hóa Việt:
*Ông Phạm
Sơn, một nhà giáo dục đă nhận
định: Qua Thông Loại Khóa Tŕnh #Miscellanees ou Lectures
instructives 1888,Ông Petrus Kư là người đầu tiên
phổ biến Văn hoá Việt bằng chữ Quốc
Ngữ.
*Linh Mục
Thanh Lảng đă nhận định:Ông Petrus Kư
xứng đáng là bậc chỉ đạo của thời
kỳ nầy,linh hồn của thế hệ 1862,Ông Thầy khai
đường mở lối cho thế hệ 1913
hoặc:
”Với Petrus Kư, mới thật sự khai
mở một kỷ nguyên mới:Kỷ nguyên văn xuôi”
*GS Phạm
Thế Ngũ “ Petrus Kư là người đề
xướng lên những công việc mà rồi sau nầy
nhóm Nam Phong ngoài Bắc tiếp tục như:phiên âm văn
Nôm cũ,khảo cứ về văn hóa và chế
độ nước nhà,sưu tầm những ca dao
tục ngư,cổ tích cuă ta,dịch thuật ngoại
văn ra Quốc Ngữ”
*Học
giả Ứng Ḥe Nguyễn Văn Tố đă nhận định
về Ông Petrus Trương Vĩnh Kư ø :
BÁC HỌC,TÂM THUẬT,KHIÊM
NHƯỜNG
Bên cạnh sự đấp xây nền
tảng và đóng góp to lớn vào nền văn học
QuốcNgữ vào buổi sơ khai,nhà bác học Petrus Kư c̣n
là vị Thầy của
nền văn minh miệt vườn thuộc đồng
bằng Cửu Long và Đồng Nai.Các loại cây ăn
trái ngon, ngọt,bùi,gịn: Sầu Riêng,Ḅn Bon,Chôm Chôm
Java,Măng Cụt v.v.atấ cả đều do chính tay Ông
mang hột giống từ vùng đất MảLai đem
về trồng đầu tiên ở vùng CáiMơn.Lần
lần được phổ biến sang các vùng kế
cận của đồng bằng Cửu Long và
Đồng Nai như Lái Thiêu, Long Thành v.v Trái cây ngon,
thương mại tốt,lợi tức cao,nơi nào
đất đai thuận lợi,thay v́ trồng lúa,nhà nông
trồng cây ăn trái;nhà nông biến thành nhà vườn.
Ăn trái nhớ kẻ
trồng cây.
Vừa thừa hưởng cây Văn Hóa
Quốc Ngữ vừa thưởng thức trái cây ngon
ngọt!
Tưởng nhớ tài cao đức
trọng của nhà Bác Học đất CáiMơn
BếnTre: Trương
vĩnh Kư là việc
đáng làm và phải làm đối với những
người có Văn Hóa và đang làm văn hóa vậy!
*** Lương Khắc Ninh (1862-1943) người tổng Bảo
Hựu, BếnTre ,hợp tác với Ông Trần Chánh
Chiếu lập tờ Nông
cổ Mín đàm và sau đó làm chủ bút với chủ
trương :cổ động Người Việt
phải lo phát triển Nông,Công,Thương,ủng hộ
phong trào Duy Tân , Đông Du
của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh;khích lệ văn
nhân thi hữu như Nguyễn Khắc Huề,Nguyễn
Dư Hoài ,Bùi Quang Nho cũng người BếnTre sáng tác
nhiều thơ văn yêu nước trong tinh thần duy
tân, tự cường và dân tộc chủ nghĩa.
*** Bùi Quang Chiêu (1873-1945)
Người Mỏ Cày Bến Tre,đậu Kỹ Sư Canh Nông tại
Pháp,về nước làm việc tại Saig̣n và
Huế.Hoạt động chánh trị từ năm
1923,sáng lập viên đảng Lập Hiến Đông
Dương với mục đích giới hạn bớt
quyền hạn cua Toàn Quyền Đông Dương qua
sự tranh đấu tại nghị trường.Chủ
trương Pháp Việt đề huề với mục
đích phát triển Đông Dương qua sự phát
triển Canh Nông, Kỹ Nghệ,Thương Mại.
*** Lê Hoàng Mưu (1879-1941) Người tổng Bảo Hựu
BếnTre,nhà báo, bút hiệu:
Mộng Huê
Lầu,chủ bút tờ Lục
Tỉnh Tân Văn từ năm 1921.Biệt tài
của Ông là bút chiến;tác phẩm nổi tiếng :Hà
Hương phong nguyệt có mục đích phê b́nh,
đả kích lối sống thác loạn của giới
trẻ Việt đang Âu hóa Xă hội Việt Nam thuở
đó.Hà Hương phong nguyệt là đối trọng
với Đoạn Tuyệt
của Nhất Linh trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn
thuộc thế hệ 1930-1945.
*** Nguyễn
Ngọc Tương
(1881-1951) Người làng An Hội BếnTre, tốt
nghiệp Chasseloup Laubat 1902. Làm việc ở Sàig̣n, CầnThơ, BếnTre, từ
nhiệm 1930 để lo phát triển việc Đạo
tại BếnTre song song với Đại Đạo Tam
Kỳ Phổ Độ Tây Ninh.Năm 1938
Ông lập Đại
Đạo Tam Kỳ BếnTre và xưng danh
Đức Giáo tông Nguyễn Ngọc Tương.
*** Nguyễn Văn Vinh (1885-1935) Người làng An Hội BếnTre,tốt
nghiệp Sư Phạm Saig̣n, lúc đầu dạy học
ở Sóc Trăng, sau đổi về Bếntre
từ năm 1914.Ông là một trong những sáng lập viên
Hội Khuyến Học BếnTre để truyền bá
chữ Quốc Ngữ. Bên cạnh nhà giáo đầy nhiệt tâm, ông c̣n
là nhà văn rất nặng ḷng với đất
nước.Ông trước tác nhiều tác phẩm thiên
về luân lư cùng binh vực kẻ thấp cổ bé
miệng bị nạn cường hào:
-Truyện Cô Lê tṛ Lư
-Truyện
mẹ chồng nàng dâu
-Truyện
Tam yên di hận
Với tác phẩm Tam yên di hận (Xă
Hội) đă kích những cảnh bất công trong xă
hội lúc bấy giờ.Sách gây tiến vang rộng trong dân
chúng,tạo nhiều ảnh hưởng,sách bị tịch
thâu ông bị mất việc làm và bị
đưa ra ṭa;mất tại BếnTre năm 1935.
*** Nguyễn Văn Bá (1904-1937) Quê Chợ Lách BếnTre,tốt
nghiệp Sư Phạm SàiG̣n.
Là một nhà giáo rất yêu nghề,bịnh
nên nghĩ dạy học và gia nhập làng báo năm 1930, chủ
nhiệm báo Thần Chung.Ông là tác giả tiểu thuyết “Người
vợ hiền” được giải thưởng
Hội Luân Lư Nam Kỳ; người cùng thời đă có nhận xét
về Ông” Trong cuộc đời dạy hoc, viết
văn, làm báo,Ông Nguyễn Văn Bá truyền bá luân
lư,đạo làm người,phổ biến ḷng yêu
nước,t́nh yêu quê hương, tranh
đấu bằng ng̣i viết chống áp bức, bóc
lột, bất công.”
*** Mai Thọ Truyền (1905-1973) quê BếnTre,thâm cứu về Phật Giáo
dưới bút hiệu Chánh Trí,sáng lập viên Chùa Xá Lợi
và Hội Phật Học Nam Việt.Thập niên 60, Ông
tham chánh trong nhiệm vụ Quốc Vụ Khanh đặc
trách Văn Hóa Giáo Dục.Ông có công lớn trong việc
phục hoạt các tác phẩm cổ văn.Trong lănh vực
Phật Học, Chánh trí Mai Thọ Truyền đă
trước tác rất nhiều, nổi tiếng nhứt là
các khảo luận về Phật giáo trong các tạp chí
về Phật Học, phiên dịch rất nhiều kinh sách về
Phật giáo ra Việt ngữ; mất ngày 17/4/1973 tại
SàiG̣n.
*** Bà Mai Huỳnh Hoa (1910-1987) Là nữ văn sĩ gốc
BếnTre,cây viết rất nổi tiếng trên các tạp
chí,đặc san SàiG̣n thuộc thập niên 40-50,bà là ái
nữ học giả Mai văn Ngọc,hiền thê nhà ái
quốc Phan Văn Hùm,cháu ngoại nữ sĩ Sương
Nguyệt Ánh tức cháu cố Cụ Đồ Chiểu.Bà
có tinh thần yêu nước rất cao,hợp tác với Bà
Nguyễn An Ninh để hết ḷng giúp đỡ
chồng con trên đường đấu tranh cho
đại nghĩa dân tộc;mất ngày 25/7/87 tại
SàiG̣n.
*** Danh Nhân hiện đại:
*** Các vị ẩn Danh.
Khi đề cập đến các
gương sáng chói của BếnTre,chúng ta không có quyền
quên các vị tiền nhân của chúng ta :thông minh, giàu
nghị lực,ư chí phấn đấu,không nề gian
khổ,quyết tâm xây dựng, phát triển và ǵn giữ
đất nước BếnTre nhưng không bon chen
để cầu danh, cầu lợi.Diễn tả một
cách đầy đủ hơn về công trạng của
các vị trên;Giáo Sư Nguyễn Ngoc Huy đă ghi nhận:
Họ là những anh hùng
không tên tuổi
Trong loạn ly như
giữa lúc thanh b́nh
Bền một ḷng can
đảm chí hy sinh
Dâng đất
nước cả một đời trong sạch.
Tuy công nghiệp không ghi
trong sử sách
Tuy bảng vàng bia đá
chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu
lạc dưới trời quên
Không ai đến
khấn nguyền dâng lễ vật
Nhưng máu họ đă
len vào ḷng đất
Thịt cùng xương
trộn lẫn với non sông.
Và anh hồn chung với
tấm tinh trung
Đă ḥa hợp làm linh
hồn giống Việt.
TOÀN
QUỐC ĐBCL BẾNTRE ĐƠN VỊ
TỈNH GDP/Capita
XỨ GDP/Capita
(US
$/1989) (US$/1998)
BẾNTRE 117 THAILAND 2,140
MỸTHO & G̉CÔNG 107 MALAI 3,808
LONG AN 120 INDONESIA
840
LONGXUYÊN&CHÂUĐỐC 115 PHILIPPINES
1,033
CẦNTHƠ&SÓCTRĂNG 112 S.KOREA
9,040
RẠCHGÍA&HÀTIÊN
144 TRUNG QUỐC 790
VĨNHLONG&TRÀVINH 120 INDIA 540
SAĐÉC
KP-KT(ĐỒNGTHÁP) 117 PHÁP
24,956
BACLIÊU & CÀMAU 99 USA 33,946
TRUNG B̀NH ĐBCL
116 VIỆTNAM 150 (1989)